Open

HOTLINE:0932.329.482 - 0983.533.005

Nguyên tắc suy đoán vô tội

08/05/2020

Nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trụ cột chính trong hoạt động tư pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội có từ thời La-mã cổ đại khi người ta cho rằng trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo và chỉ áp dụng trong tố tụng dân sự [1]. Tư tưởng này chỉ thực sự trở thành nguyên tắc pháp luật khi cách Cách mạng tư sản Pháp dành thắng lợi đánh một dấu mốc trong cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của nhân loại để bảo vệ quyền con người, cùng với đó là đòi hỏi ngày càng gay gắt của xã hội: Cần phải có biện pháp hạn chế, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán xâm phạm thô bạo quyền con người trong Tố tụng hình sự từ phía nhà nước [2]. Là một phần của nguyên tắc (quyền) xét xử công bằng (right to a fair trial) theo tiêu chuẩn quốc tế, nguyên tắc suy đoán vô tội là một điểm quan trọng trong quá trình tiệm cận công lý và công bằng của người bị buộc tội.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nguyên tắc này được quy định minh thị trong Hiến pháp – Văn bản pháp lý nền tảng, tối cao của quốc gia và tinh thần đó được thể hiện qua các văn bản pháp lý, tiêu biểu là Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận: “ Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.”

Các tội quy định tại Chương XXIV: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, nhằm ngăn ngừa và xử lý những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án. Trong đó có những quy định về ngăn ngừa hành vi kết án oan người vô tội, gián tiếp bảo vệ quyền của người bị điều tra, truy tố theo nguyên tắc suy đoán vô tội.

Bởi lẽ, hoạt động tố tụng, trong đó có tố tụng hình sự là hoạt động mang tính bất bình đẳng giữa một bên là Cơ quan quyền lực Nhà nước và một bên là người bị buộc tội. Bản chất của pháp luật là công cụ của Nhà cầm quyền, dùng để bảo vệ quyền lực của giai cấp thống trị, duy trì trật tự xã hội và cơ quan tiến hành tố tụng là đơn vị có chức năng vận hành những công cụ đó. Do vậy, với quyền lực của mình, thông qua tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có đủ khả năng định đoạt về việc có hay không tước bỏ một hoặc một số quyền công dân, quyền con người của người bị buộc tội. Từ đó, người bị buộc tội trở thành đối tượng yếu thế trong xã hội, cần được bảo vệ để tránh sự vi phạm quá mức, xâm phạm quyền con người của cơ quan tiến hành tố tụng. Chính vì lẽ đó, nguyên tắc suy đoán vô tội không những là nguyên tắc nền tảng của tố tụng hình sự mà còn là chiếc phao cuối cùng đối với người buộc tội khi không thể/ không đủ khả năng thực hiện quyền tự chứng minh bản thân mình vô tội.

Một tư tưởng để trở thành nguyên tắc của pháp luật trong đó có nguyên tắc của Tố tụng hình sự đảm bảo yêu cầu đầu tiên đó là phải chuyển tải một tư tưởng có ý nghĩa là giá trị được thừa nhận chung; Phải đảm bảo tính đầy đủ, tính phù hợp, toàn diện và đồng bộ. Nhưng quan trọng hơn cả, tư tưởng đó phải chứa đựng một giá trị dung hòa được lợi ích của giai cấp thống trị với công dân, giữa tập thể với cá nhân và bảo vệ được quyền cơ bản của con người. Giá trị của nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện minh thị thông qua hai phương diện là phương diện chứng minh và phương diện đối xử.

Phương diện chứng minh là nhận thức về sự thật khách quan của vụ án thông qua quá trình điều tra. Trong đó, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm xác định sự thật vụ án thông qua các biện pháp nghiệp vụ qua phương pháp chứng minh trực tiếp hoặc chứng minh phản chứng. Nội dung này thể hiện qua các quy định tại Điều 15, Điều 85, Điều 230, Điều 245, Điều 280 … Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội….” Phương diện đối xử là không chỉ thể hiện tính nhân văn trong việc đối xử giữa người tiến hành tố tụng và người bị buộc tội mà còn xóa bỏ sự định kiến trong nhận thức của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử để đảm bảo sự khách quan của vụ án, không hàm oan người vô tội. Vì vậy, để cơ quan tiến hành tố tụng làm đúng trách nhiệm của mình, duy trì xuyên suốt tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội, pháp luật Việt Nam quy định chặt chẽ các điều khoản về việc đối xử, hành xử của người tiến hành tố tụng trong hoạt động tư pháp. Nội dung này thể hiện qua quy định tại Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 25… Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Chương XXIV Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Thực tế cho thấy nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được áp dụng triệt để tại một số địa phương, cơ quan tiến hành tố tụng dẫn tới oan sai, vi phạm nghiêm trọng tố tụng, xâm phạm quyền con người do những yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn là một trong những nguyên tắc nền tảng của tố tụng hình sự và được pháp luật duy trì thực hiện. Trên tinh thần thượng tôn pháp luật, để hạn chế tối đa các sai phạm trong hoạt động tư pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng cần độc lập hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án; Nâng cao quyền giám sát của các cơ quan, tổ chức, công dân và đảm bảo tuyệt đối tinh thần của các nguyên tắc tố tụng, trong đó có nguyên tắc suy đoán vô tội.

[1] Nguyễn Thái Phúc- Nguyên tắc suy đoán vô tội- Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 11/2006, trang 72.

[2] TS. Đinh Thế Hưng - Thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 11/9/2019.

Tin cùng loại

Tin mới nhất

CÔNG TY LUẬT TNHH KHOA TÍN

Số 28 - TT2, Khu đô thị HDMon, Đường Hàm Nghi, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội