Open

HOTLINE:0932329482

Quy định về tội hối lộ, môi giới hối lộ

11/05/2019

Thứ nhất, tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ theo quy định của pháp luật

Tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ được quy định tại Điều 364, Điều 365 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2017 như sau:

Một người được coi là phạm tội đưa hối lộ nếu như có hành vi trực tiếp hoặc thông qua quan hệ trung gian để đưa hoặc sẽ đưa cho người đang giữ các chức vụ, quyền hạn những lợi ích nào đó nhằm mục đích yêu cầu họ phải làm hoặc không làm một việc nào đó cho mình.

Tội môi giới hối lộ chính là việc một người có hành vi đóng vai trò làm trung gian nhằm cố ý tạo cầu nối để một người đưa hoặc sẽ đưa các lợi ích cho người có chức vụ, quyền hạn để họ giúp mình thực hiện hoặc không thực hiện một việc nào đó. 

Như vậy, mặc dù không phải trong mọi trường hợp đều có người trung gian môi giới hối lộ, tuy nhiên có thể xác định giữa tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ có mối quan hệ và những điểm tương đồng nhau, cụ thể như sau:

– Về chủ thể: Có thể nói những người thực hiện hành vi trong cả hai tội này đều không phải chủ thể đặc biệt, tùy theo tính chất và mức độ của hành vi đã thực hiện, chỉ cần đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đã quy định đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

– Tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ đều là những loại tội phạm xâm hại đến hoạt động của tổ chức, cơ quan. Nếu như nhận định hành vi đưa hối lộ là một trong những nguyên nhân tác động trực tiếp làm cho những người có chức vụ, quyền hạn thoái hóa, biến chất thì hành vi môi giới hối lộ có thể được xem như là tiếp tay, giúp sức.

– Về hành vi phạm tội:

+ Trong tội đưa hối lộ: người phạm tội phải thực hiện hành vi đưa hoặc sẽ đưa lợi ích nào đó cho người có chức vụ, quyền hạn. Điều này có nghĩa rằng, hành vi đưa hối lộ có thể xảy ra trước hoặc sau khi người có chức vụ, quyền lợi thực hiện một việc nào đó cho người đưa hối lộ. 

+ Riêng đối với tội môi giới hối lộ, người phạm tội chỉ thực hiện một hành vi duy nhất đó chính là trung gian móc nối cho người đưa và người nhận hối lộ. Điều này có thể được thể hiện qua việc người phạm tội đứng ra giới thiệu, thúc đẩy, tạo điều kiện để người đưa và người nhận hối lộ tiếp xúc với nhau.

– Nếu như trong một số tội khác, hậu quả của tội phạm phải là dấu hiệu bắt buộc thì đối với tội đưa hối lộ, môi giới hối lộ đây lại không phải điều bắt buộc. Tuy nhiên, giá trị của lợi ích mà người đưa hối lộ đã và sẽ đưa cho người nhận lại có tính chất quyết định đối với tội này. Theo đó, chỉ cần người thực hiện hành vi đưa các lợi ích phi vật chất hoặc vật chất có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đã đủ cấu thành hai tội này. 

– Về mặt chủ quan của tội phạm: tội đưa hối lộ, môi giới hối lộ chỉ được đặt ra nếu người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Họ nhận thức rõ hành vi của mình cũng như hậu quả của hành vi này nhưng vẫn thực hiện.

Thứ hai, về hình thức xử phạt đối với tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 364 về tội đưa hối lộ và Điều 365 về tội môi giới hộ lộ trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi bổ sung năm 2017 đã đặt ra các khung hình phạt đối với hai tội này như sau:

– Khung hình phạt thứ nhất áp dụng trong trường hợp lợi ích mà người nhận hối lộ có được từ người đưa hối lộ hoặc thông qua người môi giới hối lộ là phi vật chất hay vật chất (giá trị từ 2 triệu đến 100 triệu đồng):

+ Có thể áp dụng hình thức phạt tiền đến 200 triệu đồng, hoặc

+ Cải tạo không giam giữ: thời hạn đến 3 năm

+ Phạt tù trong thời gian từ 6 tháng đến 3 năm. 

– Khung hình phạt thứ hai được áp dụng chính là hình phạt tù có thời hạn từ 2 năm đến 7 năm nếu hành vi của người đưa hối lộ, môi giới hối lộ rơi vào một trong các trường hợp sau:

+ Hành vi được thực hiện bởi sự tham gia của nhiều người, có tổ chức, phân công chặt chẽ

+ Thủ đoạn mà người đưa hối lộ, môi giới hối lộ khi thực hiện hành vi hết sức xảo quyệt. 

+ Người đưa hối lộ, môi giới hối lộ là những chủ thể đặc biệt, họ có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng điều đó hoặc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước để thực hiện hành vi. 

+ Những người thực hiện hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là những người có nhân thân không tốt, phạm tội từ 2 lần trở lên. 

+ Số tiền tương ứng của các lợi ích vật chất được đưa cho người nhận hối lộ có giá trị từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng. 

– Khung hình phạt tù thứ ba được áp dụng trong trường hợp lợi ích vật chất mà người nhận hối lộ có được có giá trị lớn từ 500 triệu đến dưới 1 tỷ đồng, cụ thể: Đối với tội đưa hối lộ, người thực hiện hành vi sẽ phải chịu khung hình phạt từ 7 năm đến 12 năm tù. Còn đối với người thực hiện hành vi môi giới hối lộ hình phạt có phần nhẹ hơn, chỉ từ 5 năm đến 10 năm tù.

– Khung hình phạt thứ tư đối với người phạm tội đưa hối lộ là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, từ 8 năm đến 15 năm đối với tội môi giới hối lộ nếu như giá trị tài sản mà người nhận hối lộ có được có giá trị rất lớn từ 1 tỷ đồng trở lên.

Ngoài các khung hình phạt trên, người phạm tội có thể bị phạt tiền với mức cao nhất là 50 triệu đồng đối với tội đưa hối lộ và 200 triệu đồng đối với tội môi giới hối lộ. 

Lưu ý:

– Mọi hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ không phân biệt được thực hiện đối với người có chức vụ, quyền hạn trong hay ngoài Nhà nước đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ hoặc môi giới hối lộ theo quy định. 

– Ngoài ra, cùng với sư nghiêm minh của pháp luật, nhà nước ta cũng đảm bảo chính sách khoan hồng đối với người phạm tội, cụ thể như sau:

+ Đối với tội đưa hối lộ: Nếu như có căn cứ xác minh được việc thực hiện hành vi đưa hối lộ là do bị cưỡng ép, bắt buộc thì người thực hiện hành vi này sẽ không bị coi là có tội. Đồng thời, số lợi ích mà họ đã đưa cho người nhận hối lộ cũng sẽ được trả lại toàn bộ. 

+ Người đưa hối lộ, môi giới hối lộ có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu như những người thực hiện các hành vi đó chủ động khai báo trước khi bị cơ quan chức năng phát giác.

Tin cùng loại

Tin mới nhất

CÔNG TY LUẬT TNHH KHOA TÍN

Số 28 - TT2, Khu đô thị HDMon, Đường Hàm Nghi, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội