Open

HOTLINE:0932.329.482 - 0983.533.005

Khi nào thì được ly hôn?

30/10/2020

Câu hỏi: Chào luật sư! Tôi và chồng tôi lấy nhau năm 2016. Mặc dù mới lấy nhau được ít năm nhưng chông tôi đã trai gái, bồ bịch. Cả năm chỉ về nhà vài lần, mỗi lần về nhà đều đánh đập tôi. Giờ tôi muốn ly hôn thì có cần được chông tôi đồng ý không? Tôi và chồng tôi có một ngôi nhà do bố mẹ tôi cho. Giờ nếu ly hôn thì tôi có cần chia một nửa căn nhà cho chồng tôi hay không? Cảm ơn!

Trả lời:

Cảm ơn câu hỏi của bạn, đối với vấn đề này Khoa Tín xin được giải đáp như sau:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi không còn muốn tiếp tục quan hệ hôn nhân, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, trường hợp bạn muốn ly hôn thì không cần phải được sự đồng ý của chồng. Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào bạn cũng có thể được ly hôn. Việc ly hôn theo yêu cầu của một bên căn cứ theo quy định của Điều 56 như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, bạn có thể đơn phương ly hôn chồng của mình.

Đối với căn nhà mà hiện tại hai vợ chồng đang ở, để giải quyết được yêu cầu của bạn cần phải xác định được nguồn gốc của tài sản. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại điều 59 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chông khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Do đó, cần xác định ngôi nhà mà hai vợ chồng bạn đang ở có phải tài sản chung của hai vợ chồng bạn hay không thì mới xác định được cách thức phân chia tài sản. Trường hợp, bố mẹ bạn tặng cho riêng ngôi nhà cho bạn tuy nhiên trong quá trình đăng ký đứng tên ngôi nhà bạn lại đồng ý đưa ngôi nhà thành tài sản chung của cả hai vợ chồng thì ngôi nhà này sẽ được chia đôi.

Trên đây là nội dung tư vấn pháp lý của Khoa Tín về vấn đề xử lý kỷ luật lao động khi đang nghỉ phép. Trường hợp bạn còn vấn đề thắc mắc hoặc cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ Khoa Tín để được giải đáp.

Tin cùng loại

Tin mới nhất

CÔNG TY LUẬT TNHH KHOA TÍN

Số 28 - TT2, Khu đô thị HDMon, Đường Hàm Nghi, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội