Open

HOTLINE:0932.329.482 - 0983.533.005

Người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do?

04/01/2021

Hợp đồng lao động là một chế định pháp lý vô cùng quan trọng, là căn cứ xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ lao động. Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 với nhiều quy định mới về hợp đồng lao động (HĐLĐ). Một trong số đó là quy định người lao động có thể đơn phương chấm đứt hợp đồng lao động mà không cần lý do. Như vậy quy định này cụ thể như thế nào, hãy cùng chúng tôi – Công ty Luật TNHH Khoa Tín tìm hiểu qua bài viết sau dây.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng được hiểu là quyền được “rút chân” ra khỏi một hợp đồng đã được giao kết trước và đang được thực hiện. Về nguyên tắc, việc phá vỡ cam kết luôn không được khuyến khích, nếu như không muốn nói là bị cấm đoán. Tuy nhiên, nếu như pháp luật hợp đồng nói chung trù liệu cho việc phá vỡ cam kết một cách chủ động chỉ trong một số trường hợp được dự kiến và bên phá vỡ cam kết luôn phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định, thì pháp luật lao  động xem việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ, đặc biệt là việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ người lao động (NLĐ) như một quyền quan trọng của NLĐ, quan trọng không kém quyền được giao kết HĐLĐ. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng ghi nhận quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ và được coi là một quyền đương nhiên và gần như vô điều kiện của NLĐ.

Khoản 1 điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ như sau:

“Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động”.

Từ quy định này có thể thấy, trong mọi trường hợp, với mọi loại hợp đồng ( dù là xác định thời hạn hay không xác định thời hạn), bất kể có hay không có lý do và lý do là gì, NLĐ nếu muốn đều có thể tự mình đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần phải tiến hành một thủ tục đặc biệt có ý nghĩa kiểm soát quyền từ một chủ thể khác, chỉ cần đáp ứng thủ tục thông báo theo quy định.

Đây là một quy định mới so với bộ luật lao động năm 2012. Bộ luật Lao động 2012 quy định, đối với những hợp đồng lao động xác định thời hạn (12-36 tháng), hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc công việc nhất định (dưới 12 tháng), khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải có lý do và phải báo trước; đối với hợp đồng lao động không xác định thời giạn thì không cần lý do và phải báo trước. Trong khi đó, Bộ luật Lao động 2019 quy định, khi NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì trong mọi trường hợp: Không cần lý do nhưng phải báo trước; đối với một số trường hợp đặc biệt thì người lao động không cần lý do và cũng không cần phải báo trước. Xét về mức độ của bảo vệ quyền, BLLĐ 2019 đã có sự thay đổi quan trọng trong việc bảo đảm tối đa cho NLĐ tự do thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của mình với tư cách là một bên yếu thế hơn khi tham gia quan hệ lao động.

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận vấn đề ở một khía cạnh khác. Chúng ta có thể thấy, trong bối cảnh hiện nay, quan hệ lao động đóng vai trò ảnh hưởng mang tính quyết định đến đời sống công nghiệp và sự phát triển kinh tế- xã hội. Việc BLLĐ 2019 cho NLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ một cách khá tự do sẽ có tác động nhất định đến đời sống kinh tế - xã hội trong tương lai. Bởi vì, sự cho phép này sẽ tạo tâm lý ỷ lại và tình trạng nhảy việc từ phía NLĐ có thể diễn ra một cách khó kiểm soát. Điều này dẫn đến sự thiếu ổn định trong quan hệ lao động- tiền đề cần thiết cho sự bình ổn hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng, xã hội nói chung.

Mặt khác, sự cho phép này dường như cũng gây nên một tình trạng bất bình đẳng giữa NLĐ và NSDLĐ. Sự bất bình đẳng này là không bình thường với quan hệ lao động, với bản chất là một quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tư. Đây là một trong những nguyên nhân có khả năng ảnh hưởng đến việc xác lập quan hệ lao động, điều này có nghĩa là để né tránh những bất lợi có thể gây ra từ sự bất bình đẳng này, bên sử dụng lao động sẽ thay vì xác lập quan hệ lao động và phải đảm bảo chế độ an sinh thì sẽ lựa chọn xác lập quan hệ pháp luật khác (chẳng hạn như quan hệ pháp luật dân sự - hợp đồng dịch vụ) mà không cần phải tham gia các chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội… cho NLĐ. Điều này dẫn đến việc đảm bảo điều kiện sống thông qua hệ thống an sinh xã hội có thể sẽ bị tác động theo hướng tiêu cực (kém đảm bảo, hoàn toàn không tốt cho điều kiện kinh tế - xã hội nói chung).

Trên đây là nhận định của chúng tôi liên quan đến vấn đề NLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần lý do. Đây là một quy định mới, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ. Do vậy cần có cách hiểu chính xác, nhìn nhận toàn diện để đảm bảo quyền lợi của các bên khi tham gia quan hệ lao động nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung. 

Tin cùng loại

Tin mới nhất

CÔNG TY LUẬT TNHH KHOA TÍN

Số 28 - TT2, Khu đô thị HDMon, Đường Hàm Nghi, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội