Open

HOTLINE:0932329482

Những vấn đề liên quan đến Luật Lao động

15/05/2020

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao đông, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.”

Theo định nghĩa này thì người lao động được giới hạn độ tuổi từ đủ 15 trở lên. Tuy nhiên, Bộ luật lao động cũng đồng thời đưa ra quy định đối với một số công việc có tính chất đặc biệt, người sử dụng lao động được thuê người lao động dưới 15 tuổi, tuy nhiên phải đáp ứng những điều kiện nhất định.

Cụ thể, Điều 164 Bộ luật Lao động 2012 quy định :

“1. Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

2. Khi sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi thì người sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau đây:

a) Phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật và phải được sự đồng ý của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi;

b) Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến giờ học tại trường học của trẻ em;

c) Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi;

3. Không được sử dụng lao động là người dưới 13 tuổi làm việc trừ một số công việc cụ thể do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.”

Khi sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc thì người sử dụng lao động phải tuân theo quy định tại khoản 2 Điều này.

1. Quyền của người lao động:

Quyền của người lao động được quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Lao động 2012 như sau:

1. Người lao động có các quyền sau đây:

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;

b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;

d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật;

đ) Đình công.”

Theo điều luật này, người lao động được quy định có năm quyền cơ bản gồm: các quyền liên quan đến chọn lựa và thực hiện việc làm, nghề nghiệp; các quyền liên quan đến chế độ bảo đảm trong lao động gồm thù lao và các chế độ bảo đảm khác; các quyền liên quan đến việc tổ chức; quyền đơn phương tự mình chấm dứt quan hệ lao động và quyền đình công. Các quyền nêu trên mang tính khái quát và được cụ thể hoá, chi tiết hoá trong các điều luật khác.

Bên cạnh đó, người lao động cũng được hưởng quyền tương đương với nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động.

2. Nghĩa vụ của người lao động:

Tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật lao động 2012, nghĩa vụ của người lao động được quy định như sau:

2. Người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể;

b) Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động;

c) Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.”

Quy định trên nêu ra ba nghĩa vụ cơ bản của người lao đông như sau:

  • Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động và thỏa thuận tập thể: đây là hai thỏa thuận quan trọng, quyết định quan hệ lao động của người lao động và người sử dụng lao động. Trong những thoả thuận của hợp đồng lao động sẽ nêu rõ những nghĩa vụ cụ thể cho người lao động phù hợp với đặc điểm, tính chất nguyện vọng của người sử dụng lao động. Đối với thỏa ước, việc quy định của Bộ luật là mang tính khái quát vì có một số quy định cần thực hiện theo tập thể
  • Nghĩa vụ chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động: vì sự ổn định và trật tự doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, sự an toàn của sản nghiệp, tài sản đầu tư nên pháp luật quy định người sử dụng lao động được quyền quản lý người lao động.
  • Nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế: nội dung này đề cập tới nghĩa vụ đối với chủ thể thứ ba là Nhà nước. Thực thi nghĩa vụ đòi hỏi người lao động tuân thủ, thực thi đúng và đầy đủ quy định về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các quy định khác có liên quan.

Tin cùng loại

Tin mới nhất

CÔNG TY LUẬT TNHH KHOA TÍN

Số 28 - TT2, Khu đô thị HDMon, Đường Hàm Nghi, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội