Open

HOTLINE:0932.329.482 - 0983.533.005

Giá trị pháp lý của bản sao chứng thực

26/10/2020

Hiện nay, mặc dù đã tham khảo ý kiến tư vấn của nhiều luật sư, chuyên gia pháp lý (thông qua hình thức tư vấn trực tiếp, gián tiếp hoặc chủ động tra cứu thông tin trên mạng internet), nhưng rất nhiều người vẫn hoang mang, lo lắng khi không thể xác định được chính xác giá trị pháp lý của bản sao chứng thực từ bản chính. Nhiều ý kiến cho rằng, bản sao chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý vô thời hạn; nhiều ý kiến khác lại cho rằng bản sao chứng thực từ bản chính chỉ có giá trị pháp lý trong thời hạn 06 tháng; không ít ý kiến cho rằng thời hạn giá trị pháp lý của bản sao chứng thực từ bản chính phụ thuộc vào thời hạn hiệu lực của bản chính.

Là một tổ chức hành nghề luật sư, quan điểm của chúng tôi là BẢN SAO CHỨNG THỰC TỪ BẢN CHÍNH CÓ THỂ KHÔNG ĐƯỢC THỪA NHẬN GIÁ TRỊ PHÁP LÝ NẾU NGƯỜI CUNG CẤP TÀI LIỆU KHÔNG CHỨNG MINH ĐƯỢC SỰ TỒN TẠI VÀ HIỆU LỰC CỦA BẢN CHÍNH.

Theo quy định pháp luật hiện hành, bản sao chứng thực từ bản chính là tài liệu hình thành do hoạt động chứng thực bản sao từ bản chính. Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính (quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 23/2015/NĐ-CP).

Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 23/2015/NĐ-CP).

Như vậy, pháp luật hiện hành không quy định thời hạn có giá trị pháp lý của bản sao chứng thực từ bản chính dẫn đến có nhiều cách hiểu và cách áp dụng pháp luật khác nhau. Điều này lý giải cho việc nhiều cơ quan, tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ, chức năng đã yêu cầu các tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu một cách không đồng nhất, mỗi nơi một kiểu, gây khó khăn cho một bên của giao dịch.

Nhưng nghiêm trọng hơn, các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức, các cá nhân có liên quan hoàn toàn có quyền nghi ngờ và yêu cầu người cung cấp bản sao chứng thực từ bản chính phải chứng minh được sự nguyên bản (không thay đổi thông tin kể từ thời điểm chứng thực thông qua việc cấp lại, cấp điều chỉnh,…), sự tồn tại (có thật) và còn hiệu lực của bản chính (thời hạn sử dụng).

Chúng tôi đưa ra một ví dụ để người đọc có thể dễ hình dung hơn, cụ thể như sau:

Anh Nguyễn Văn A được Công an quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội cấp Sổ hộ khẩu vào ngày 10/3/2020. Cùng ngày, anh Nguyễn Văn A đã chứng thực Sổ hộ khẩu trên thành 10 bản, với tâm lý để sử dụng dần, tiện lợi cho các giao dịch có liên quan. Đến ngày 20/3/2020, anh Nguyễn Văn A đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị B. Sau khi đăng ký kết hôn, anh Nguyễn Văn A thực hiện thủ tục đề nghị bổ sung chị Nguyễn Thị B là thành viên của hộ gia đình và được Công an quận Nam Từ Liêm ghi nhận, bổ sung tên của chị Nguyễn Thị B trong Sổ hộ khẩu vào ngày 10/4/2020. Vậy, kể từ ngày 10/4/2020 (sau 01 tháng kể từ thời điểm chứng thực), 10 bản sao chứng thực Sổ hộ khẩu trước đó của Nguyễn Văn A đương nhiên không còn giá trị pháp lý, bởi giữa bản sao chứng thực từ bản chính của Sổ hộ khẩu với bản chính Sổ hộ khẩu đã có sự sai khác về nội dung, cụ thể là thành viên hộ gia đình.

Từ ví dụ trên có thể thấy, cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức, cá nhân có cơ sở để yêu cầu các tổ chức, cá nhân xuất trình tài liệu là bản sao chứng thực phải chứng minh giá trị pháp lý bản sao chứng thực từ bản chính của bất kỳ giấy tờ nào, tại bất cứ thời điểm nào. Bởi chẳng có gì đảm bảo cho khoảng thời gian từ thời điểm chứng thực cho đến thời điểm giao dịch với cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan, tài liệu được chứng thực có bị mất, bị hủy bỏ, bị thu hồi, thay đổi, điều chỉnh thông tin gì so với bản chính được cấp trước đó hay không.

Tất nhiên nghĩa vụ chứng minh thuộc về chủ thể cung cấp tài liệu chứng thực (tổ chức, cá nhân) chứ không phải là chủ thể tiếp nhận tài liệu chứng thực (cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan). Như vậy, trường hợp tổ chức, cá nhân không xuất trình được bản chính khi được yêu cầu, không chỉ riêng cơ quan quản lý Nhà nước mà bất kỳ tổ chức, cá nhân nào là bên yêu cầu cung cấp tài liệu cũng có thể phủ nhận giá trị pháp lý của bản sao chứng thực từ bản chính đó.

Đó là chưa kể đến trường hợp rủi ro khác khi hiện nay, rất nhiều tổ chức thực hiện chức năng chứng thực đang thực hiện việc chứng thực bản sao từ bản chính mà không cần bản chính để đối chiếu.

Hy vọng thông qua bài viết này, mọi người có thể hiểu rõ được giá trị, vai trò pháp lý của bản chính, bản sao chứng thực từ bản chính để có thể sử dụng cho phù hợp.

Luật sư: Phạm Bá Trưởng (SĐT: 0967.112.891)

Tin cùng loại

Tin mới nhất

CÔNG TY LUẬT TNHH KHOA TÍN

Số 28 - TT2, Khu đô thị HDMon, Đường Hàm Nghi, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội